VIẾNG HẠ PHẨM LIÊN HOA

2. Cách Phản Ảnh Vọng Nghiệp


Chúng sanh của hạ phẩm hạ sanh là những chúng sanh được đới nghiệp vãng sanh do nhất tâm niệm Phật cầu sanh tịnh độ...  Thế nào gọi là đới nghiệp vãng sanh?   Ngày trước ở trong thế gian ta bà, những chúng sanh này, từng tạo qua vô số nghiệp ác, như sát sanh, trộm cướp, phỉ báng, dối gạt, hãm hại, tà dâm, nói thêu dệt v.v... nói về hành vi những người này lẽ ra không thể vãng sanh được nhưng ở ngày sắp chết ấy, gặp được thiện trí thức dạy bảo niệm Phật cầu vãng sanh tịnh độ...  Do bất tâm nhất loạn niệm Phật liên t ục trong phút cuối, lại được nguyện lực Đức Phật A Di Đà gia bị cho nên được tiếp dẫn đến Tây Phương Cực Lạc, hóa sanh trong ao sen của hạ phẩm hạ sanh.  Nhưng mà trong 9 phẩm hoa sen ấy, nếu muốn tu tiến từ phẩm thấp nhất là hạ phẩm hạ sanh đến phẩm cao nhất là thượng phẩm thượng sanh phải cần thời gian là 12 kiếp trên ấy (một kiếp tên ấy bằng 16,798,000 năm dưới trần gian, muốn vượt thêm để thành Phật cần 21,576,000 năm dài).  Nếu như ta nhất quyết chịu khó tu trì ở ta bà này, thì chúng ta chỉ cần vài ba năm hay năm bảy năm đã có thể ở trung phẩm hay thượng phẩm rồi, còn nếu ráng tu hết kiếp có thể thành Phật đạo .  Do đó chúng ta cần biết quý cái thân người, thân người khó đặng nay đã đặng thì phải ra khổ công mà tu hành, thì sẽ có nhiều triển vọng thành Phật hơn ở bất kỳ cảnh giới nào.  Chúng ta phải ráng tu hành như gương Ngài Ấn Quang Pháp Sư hay Hoằng Nhất Pháp Sư chẳng hạn, các Ngài đang ở Thượng Phẩm Thượng Sanh.

Nhưng mà, nói qua cũng cần nói lại, chúng sanh ở thế giới ta bà ngày lại có rất nhiều loại khổ tâm khó mà tránh nổi, khổ tâm về cuộc sống, về sự già nua, bệnh, chết chóc, về oán ghét mà cứ gặp, về yêu thích mà cứ xa, về ngũ ấm dấy loạn, về ướt mơ mà không đạt thành; còn ở Thế Giới Cực Lạc dẫu ở bậc thấp thấp nhất là hạ phẩm hạ sanh thì cũng có an lạc mà không có khổ tâm. 

Những người ở hạ phẩm hạ sanh tuy cần 12 kiếp để đạt thành chánh quả, nhưng tuần tự từng bước, có chỉ bảo rõ rệt để họ không bị thoái chuyển mà rớt xuống tam ác đạo (là địa ngục, súc sanh, ngạ quỷ), suốt quá trình tu tập vững như bàn thạch trong cảnh cực lạc mà trôi qua .

Hoa sen ở hạ sanh hạ phẩm, không giống hoa sen ở thế gian chúng ta, nó lớn cỡ 3 dặm đến 4 dặm, nó cao 3 đến 4 tầng lầu.  Hoa sen nào cũng phát hào quang, nếu mà chúng sanh trong hoa sen ấy khởi vọng tưởng thì ánh sắc của hoa sẽ u trầm ảm đạm, nếu nội tâm thanh tịnh thì hoa sen sẽ rừng rực chiếu sáng. 

Bồ Tát Quan Âm nói: 

-        Chúng sanh từ nhiều đời nay, tạo vô lượng những nghiệp không giống nhau, cho nên sau khi đới nghiệp vãng sanh, c'ach phản ánh vọng nghiệp cũng khác nhau.  Người trong hạ phẩm hạ sanh nghiệp chướng tương đối nhiều vì có sự khác biệt về nặng nhẹ, ít nhiều của nghiệp mang theo nên trong các hoa sen ở hạ phẩm cũng chia làm thượng trung hạ ba bậc, phần nhiều là những loại hình ân tình luyến ái khó quên như cha mẹ, anh em, chị em bạn bè v.v... và cả mơ ước về vật mỗi thứ đều phản ảnh ra cũng như ở thế gian chiêm bao vậy .  Giờ đây tôi đưa ông đi xem tình hình thực tế của một phản ảnh vọng nghiệp ở nơi đây nha!

Bồ Tát Quan Âm dẫn tôi qua mấy ngã quẹo, đến 1 đóa sen tương đối ảm đạm tối.  Lúc đến gần thì tôi thấy một tòa lâu đài, phòng ốc đẹp lớn hơn cung vua, vườn hoa vô cùng tráng lệ, trong nhà bày biện những vật cổ quý giá, tất cả đều bố trí trang nhã không khác gì nhà của một tể tướng sang quý nhất vậy.  Trong ấy trai gái già trẻ mười người, quần áo giống ở thế gian ta, có người ra ra vô vô ra rất là nhộn nhịp như đang sửa soạn đãi đằng gì đó. 

Tôi hỏi Bồ Tát Quan Âm: 

-        Thưa Bồ Tát tại sao trong thế giới Cực Lạc lại có cả cách sống như ở trần gian vậy?

Ngài trả lời: 

-        Cảnh này là của một người lúc lâm chung tâm của bà ta rất là thanh tịnh, nhưng khi đến đây những tánh thói của nghiệp vọng nhiều đời nhiều kiếp dầy đặc, chưa dứt hết hồng trần, nên mỗi khi về nghĩ ở hoa sen hay đánh giấc mơ về dĩ vãng, thương nhớ cha mẹ, vợ con, người yêu, bà con, anh em quyến thuộc v.v... mà hễ vọng niệm khởi thì hiển hiện ra ngay.  Ở đây chỉ có an lạc mà không có khổ đẫu là khổ "cầu bất đắc".  Cho nên khi vọng niệm nhớ đến cha mẹ, cha mẹ hiện đến, nhớ nhà lầu cung son thì nhà lầu cung son hiện ra, muốn ăn món sơn hào hải vị gì thì tất cả đều hiện đến ngay.  Nhưng khi tỉnh lại, tất chẳng có món nào cả, đấy là phản ảnh giống như người ở thế gian chiêm bao mà thôi.  Những thứ đó đều là một thứ sắc giả hiện và ngay khi ấy những người đang sống ở thế gian cũng không hề hay biết gì.

Những lời Bồ Tát dạy khiến ta thức tỉnh, kỳ thực cuộc sống ở thế gian này há chẳng giống như một giấc mơ lớn hay sao?  Đua chen đã đời khi xuôi tay tạ thế thì chẳng có cái gì đem theo được cho dù có dành dụm được vô vàn của báu nhưng đến lúc lâm chung cũng đành ra đi với hai bàn tay trắng.

Bồ Tát Quan Âm còn cho biết: 

-        Đúng ra người đời nghiệp vãnh sanh đến đây thì vọng tưởng còn nhiều hơn người thế gian, bởi vì ở thế gian là dạng vật chất cách ngăn rất nhiều, khi vọng tưởng này được dựng lên thì che lấp vọng tưởng trước, nên cái này sinh làm cái trước diệt, sinh diệt liên tục làm luôn luôn không bỏ.  Không thỏa các ước mơ to lớn, nên hay có cái than vãng cầu bất đắc khổ, nhưng ở Chực Lạc Thế Giới thì khác, chỉ cần tưởng cái gì thì cái đó trình diễn ra ngay, cho hưởng dụng tối đa, vì nơi này có tính chất thuộc hư không và trải đầy pháp giới.   Ở cõi trời thì lại là thần chất, tuy vật chất do thân lực ngũ thông hiển hiện nhưng cũng có lúc cầu mà không được.   Còn ở thế gian thuộc vật chất là ngàn trùng xa cách, nếu có cầu mong gì thì khó mà hiện thực được.

Tôi lại hỏi Bồ Tát: 

-        Vọng cảnh (tức mộng) với thực cảnh thanh tịnh của Như Lai khác nhau ở chỗ nào?

Ngài dạy rằng: 

-        Thực cảnh là còn mãi không mất, vĩnh viễn phóng ra muôn đạo ánh sáng, còn vọng cảnh thuộc về vô thường không thể phóng ra bất kỳ ánh sáng nào cả, mà cũng không có gì bền chắc, đến khi thức tỉnh rồi thì không thấy có gì tồn tại.  Chúng sanh trong thế giới ta bà không biết hối tiếc tinh lực của cuộc đời phung phí trong việc tranh danh đoạt lợi tạm bợ, đấu đá cho đến chín sống mười chết, rốt cuộc lại buông hơi tắt thở chẳng vác được theo cái gì mà mình mất công trăm cay ngàn đắng để dành lấy, thần thức lại bị đoạ lạc vào luân hồi lục đạo, trôi theo sinh tử, nương nghiệp báo mà nếm đủ chua cay đắng chát, bởi vậy muốn thoát khỏi biển khổ, cần sớm thức tỉnh dừng chân ác nghiệp.

Bồ Tát bảo căn nhà này là của một người Phổ Điển tỉnh Phước Kiến, đồng hương với tôi được đới nghiệp vãng sanh, Bồ Tát bảo tôi vào nhà xem thử.  Tôi gõ cửa vào nhà, ở trong nhà đang bày tiệc, có chừng 6-7 chục người đang say mê chè chén, trên bàn đầy dẫy những món trân châu quý giá.  Tôi thấy có một ông già ra đón tôi chừng 70 chục tuổi, đáng hào phóng, có thể là chủ nhà. 

Ông ta hỏi: 

-        Mời ông vào tiệc.  Ông ở đâu đến đây?

Tôi trả lời: 

-        Tôi là người đồng hương với ông.  Tôi đến từ phổ điền, tỉnh Phước Kiến.

Ông ta nghe nói đến đồng hương là hớn hở ra mặt: 

-        Ồ!  Thế thì hay quá, quý quá, mời vô. 

Tôi hỏi: 

-        Ông đang ăn mừng việc gì vậy?

Ông cười cười hỏi lại: 

-        Ông làm sao mà đến được đây vậy?Tôi đưa tay chỉ ra ngoài cửa và nói: 

-        Bồ Tát Quan Âm dẫn tôi đến đây tham quan các chỗ rồi về.

Tôi vừa nói xong câu ấy, tất cả các cảnh vật ở đây đột ngột biến mất, ông già ấy vừa nghe thánh hiệu Quan Âm liền rùng mình một cái lộ vẻ bẽn lẽn sám hối.  Trước mắt tôi khi nãy là một cảnh ồn ào chè chén của 6-7 chục người trong một căn nhà bày biện lộng lẫy đã tan biến đi đâu mất hết mà bây giờ tôi chỉ thấy một đóa hoa sen, trên ấy có cô bé 13-14 tuổi trong hào quang niệm Phật, thật là đẹp vô cùng.

Sau đó ông ta kể: 

-        Tôi người thôn Da Đầu, Hàm Giang, thuộc Phổ Điền của tỉnh Phước Kiến, tên là Lâm Đạo Nhất.  Nhà giàu có thuộc gia đình danh vọng trong thôn, ngày lâm chung được thiện trí thức chỉ dẫn, 10 niệm vãng sanh.  Cái mà tôi xấu hổ nhất là nghiệp chướng vọng tưởng quá nhiều không thể trừ hết, ân tình khó dứt, nên ưa nghĩ bâỵ bạ, hiện ra đủ thứ vọng cảnh.  Bồ Tát Quan Âm từng gọi tôi lên hai lần dạy dỗ, bảo tôi sửa sai, thế mà tật cũ tôi cứ vướng phải, sửa chữa không được.  Tôi có đứa cháu tên là A Vượng đang ở Tân Gia Ba, ông nói dùm con tôi là tôi vãng sanh Tịnh Độ Tây Phương rồi.

Bồ Tát Quan Âm thường khuyên nhủ những người đới nghiệp vãng sanh này, nên thường đến tắm trong nước Bát Công Đức thủy để rửa đi vọng tưởng trong lòng, cho mình trở về được thanh tịnh như lúc ban đầu, hiện ra bản lai diện mục của mình.

Tôi lại được dẫn đến một thung lũng hẹp giữa hai bờ vách cao, tôi được mục kích một hiện tượng lạ, một cô bé chừng 20 tuổi ngồi khóc rống thê thảm.   Tôi ngơ ngác nghĩ:  "Thế giới Cực Lạc không hề có sự khổ tâm mà sao lại có cô gái khóc lóc thảm thương vậy nhỉ."

Bồ Tát như hiểu ý tôi, bảo tôi tới đó xem sao.

Tôi bèn đến bên cô gái, chắp tay hỏi nguyên cớ đâu lại khóc sướt mướt vậy?  Cô bé ngước nhìn thấy tôi, không những không khóc nữa mà cười xòa nói với tôi: 

-        Dạ thưa không có chi, chỉ vì tâm linh vọng nhớ bậy bạ thôi. 

Nói rồi cô chuyển mình thành bé gái 13-14 tuổi thân hình trong vắt ngồi ngay ngắn chắp tay lên đóa hoa sen tỏa chiếu ánh hào quang, còn cảnh thung lũng với vách núi cao khi nảy biến mất.  Cô bé mỉm cười nói với tôi: 

-        Cháu người Thuận Xương tỉnh Phước Kiến, năm 1960 cháu 21 tuổi, gia đình ép gả chồng, cháu cương quyết xuất gia học Phật.  Gia đình không cho bức bách quá cháu nhảy xuống vực như nãy ông thấy đó để tự sát, việc này vốn trong thập ác tử, không được siêu sanh, nhưng Bồ Tát Quan Âm vì thương cảm cháu một lòng một dạ vững quy y đầu Phật cho nên tiếp dẫn cháu đến chốn nầy, vì cháu mới đến không lâu nên vọng nghiệp chưa dứt trừ, do đó thỉnh thoảng không kềm chế được nổi kinh hoàng khi té chết cho nên dễ bị phản ảnh ra ngoài, hiện tượng này giống như thế gian gặp ác mộng, thường hiện ra cảnh giới hãi hùng, dù được Bồ Tát Quan Âm thuyết pháp dạy bảo nhưng vẫn chưa gội sạch được.

Tôi nhắc khéo cô bé: 

-        Cô coi, đứng bên tôi không phải là Bồ Tát Quan Âm sao?

Cô nhìn lại vội vã quỳ xuống đãnh lễ Bồ Tát.  Bồ Tát chỉ dạy cô ta, và dặn cô bé hãy xuống ao tắm nước Bát Công Đức sẽ lần hồi tiêu trừ nghiệp chướng này.

Trong ao sen này tôi lại thấy một số sen cũng tỏa sáng, một số sên lại úa héo ảm đạm và lụn tàn, tôi thấy lạ bèn hỏi Bồ Tát, Ngài trả lời: 

-        Một đóa sen tàn héo, là bởi có người thoạt đầu tin Phật, niệm Phật tinh tấn lắm, nên đã gieo vào ao sen mầm nẩn hoa cũng đẹp sáng hào quang, nhưng siêng năng ít lâu đã uể oải, giải đãi tâm ban đầu, không những không niệm Phật mà còn gây tạo nghiệp thập ác, do đó thiện căn tuy nó thành hoa sen nhưng cũng úa héo gãy tàn đi.  Ông xem đây, hoa sen kia là của một ông người Giang Tây, lúc đầu quy y niệm Phật, sau đó được ra làm quan, chẳng niệm Phật nữa mà còn mở sòng chứa làm chuyện thập ác bị chính phủ phán xử tử hình, cho nên hoa sen bị héo gẫy  luôn.  Còn một đóa này nữa, người này quy y niệm Phật được 3 năm, hoa nọ coi khá khá rồi gặp dịp làm ăn lớn, cật lực hốt của phi nghĩa, cuối cùng bị phá sản, hết đường tính kế, tự sát chết, phạm thập ác là không được vãng sanh, mới khiến hoa sen của ông ấy tàn lụn vậy đó. 

Tôi lại hỏi Bồ Tát: 

Thưa Bồ Tát, thường thường Lương Pháp Sư tại tiền có nói với con là niệm 1 câu Phật diệt hằng sa tội, người ấy niệm Phật những 3 năm mà sao chẳng có công quả gì vậy?

Ngài bảo: 

-  Câu ấy là chỉ cho kẻ nương đời tạo ác, sau khi nghe thiện trí thức khuyên mới hồi tâm hướng thiện, sám hối lỗi xưa, thề không phạm nữa, thật lòng bỏ ác làm lành, niệm Phật 1 câu các tội tiêu sạch, nếu còn tiếp tục không ngừng niệm Phật khi chết vãng sanh lạc quốc, dẫu đới nghiệp vãng sanh cũng quyết không thoái chuyển, sau rốt thành Phật.

Bồ Tát ngưng một hồi nói tiếp. 

-  Nhưng cũng có người trên môi niệm Phật lòng như rết rắn, âm thầm hại người, tác ác gian phi, ấy vẫn hành vi thập ác không vãng sanh được, chỉ có gieo được một chút ít căn lành thế nhưng nếu người ấy một mai thức tỉnh, sửa sai làm lành, niệm sám hối hoa sen ấy lại vươn lên sáng đẹp như thường.

Đang nói, tôi đột nhiên gặp ni cô chừng 30 ngoài tuổi tiến về tôi reo mừng.  Tôi nhìn kỹ thì ra Ni Sư Pháp Bổn trụ trì Am ở trên núi Vân Cư tỉnh Giang Tây. 

-        A, Khoan Tịnh Sư Huynh đã đến rồi, hoan nghênh, hoan nghênh...

Tôi hỏi cô: 

-        Cô vãng sanh lúc nào?  Sao tôi không biết?

Cô ấy bảo: 

-        Năm 1971 tại vì không chịu hoàn tục, bị ép quá nhảy sông tự sát, lẽ ra phạm nghiệp (thập ác) là không vãng sanh, nhưng đức Phật mở lượng từ bi thương cho thân nữ chưa nhiễm hồng trần, nhất tâm niệm Phật, nên tiếp dẫn cho vãng sanh đến đây, cũng chưa được bao lâu.

Tôi lại hỏi: 

-        Vãng sanh hạ phẩm tất cả cùng một dáng dấp 13-14 tuổi, sao cô lại vẫn có tướng ni cô ngoài 30 tuổi vậy?

Cô trả lời: 

-        Nghe Sư Huynh đến, muốn dễ dàng cho Sư Huynh nhận mặt mới dám phản ảnh theo vọng nghiệp chút đỉnh, Sư Huynh về rồi nhắn dùm Sư Huynh Khoan Trung hãy yên tâm mà tinh tấn tu hành, muội đã vãnh sanh tịnh độ rồi.








Back   Index   Next

© Copyrighted tamlinh.net, 2002