Tôi giật mình khi nghe thấy ông Ômya nói thẳng vào tai tôi như thế.
Tính đốt tay, tôi biết ông Ômya đã được hơn hai tháng. Thực tình, lúc mới biết
ông tôi cũng có giữ gìn ý tứ trong cử chỉ và lời nói (vì nói thực bao giờ tôi
cũng nghi ngờ những người ngoại quốc tự động đến tìm tôi) nhưng ít lâu sau này
thì tôi mến ông thực tình.
Ấy là vì trong những lúc nói giỡn hay kể cho nhau nghe những chuyện đứng đắn
cũng như lúc àn về thời thế trong những khi uống nước suông hay nhậu nhẹt say
sưa bí tỉ, ông Ômya lúc nào cũng tỏ ra là một người lịch sự, có một thái độ
nghiêm túc, với những lời bình luận triết trung nhân ái.
Thường thường, ông cũng giữ gìn lời nói không dùng những ý kiến hay danh từ gì
quyết liệt. Thế mà hôm nay, kể xong câu chuyện đem từ dãy Trường Sơn về... Ông
Ômya gật đầu và nhắc lại:
- Vâng. Chính những lầm lạc đó đã giết chết Tôkubê lúc ở nhà ông bạn ăn tân gia
về... Nhưng xin nsoi ngay rằng đó chỉ là ý nghĩ của tôi thôi, xin tùy nơi ông
bạn suy xét mà cho là say hay trúng gió.
Trước khi nghe ông bạn đưa ra ý kiến, ta hãy cùng nhau tóm tắt câu chuyện Tôkubê
như thế này: Trần Hữu Lăng, bạn tôi, là một người Nhật tên là Tôkubê. Anh ta làm
mật vụ phụ trách trông coi một kho tàng ở dãy Trường Sơn, không có vợ, có con ở
Việt Nam. Hồi Nhật chiếm đóng ở đây, anh muốn lấy một cô gái tên là o Phương
Thảo, cháu của Mệ Hoát, nhưng cả Mệ Hoát lẫn cô gái khước từ tình cảm của anh
nên anh nổi nóng phá hết cả cái lâu đài của Mệ Hoát cướp đi một số cổ ngoạn đem
đi. Phương Thảo đã tự trầm và Mệ Hoát chết trong ngọn lửa. Tôi di cư vào Nam ở
cái nhà xây trên cái nền cũ nhà Mệ Hoát, đêm đêm tôi thấy bóng ma Mệ Hoát và o
Phương Thảo hiện ra nhưng tuyệt nhiên không làm hại gì đến tôi hay là các bạn
hữu của tôi.
Duy có một người bị hai cái bóng ma lưu ý từ bao giờ không biết đó là Trần Hữu
Lăng tức Tôkubê. Hai cái bóng ma đó đã mấy lần hiện ra gần Trần Hữu Lăng. Họ làm
gì, nói gì bên tai Lăng thì tôi không biết. Và cũng không ai biết vì Trần Hữu
Lăng lầm lì ít khi tỏ bày tâm sự với ai. Chỉ biết rằng lần sau càng thấy hai cái
bóng trắng ấy hiện ra thì Lăng nổi nóng không chịu được nên cất lời chửi rủa tàn
tệ và cầm ly vác ghế ném vào hai cái bóng ma đó như muốn thanh toán dứt khoát
hai cái hình ảnh làm cho mình khó chịu và bất mãn.
Thế rồi đến hôm ăn lễ tân gia, Lăng đang khỏe mạnh như bình thường nhưng khi mới
bước chân chưa ra khỏi nhà tôi thì có những cái roi vô hình quất vào đầu và mặt
y cho đến khi y ngã lăn ra tại chỗ. Chở chưa đến bệnh viện thì y đã chết. Lúc
nhập quan tài, người ta thấy toàn thân y bầm tím và trầy trụa như bị miểng sành,
miểng sứ đâm vào thịt...
Tất cả câu chuyện rút lại như thế, phải không? Tôi không hiểu tại sao ông bạn
lại cho rằng Trần Hữu Lăng chết vì những ý niệm sai lầm của anh ta về hai chữ
anh hùng, về ý nghĩa của sự sống mạnh? Hỏi vắn tắt đã: theo ông bạn, Tôkubê chết
do ai giết? Có nói rõ ra thì mới có thể có một ý nghĩ khái quát về lời quyết
đoán của ông bạn được. Ông bạn nghĩ sao?
Ômya không trả lời tôi ngay. Ông hỏi:
- Có tiếng gì lào xào ở vườn đàng sau như thể có nhiều người nói cùng một lúc
vậy ông?
- Không mà, có gì đâu.
Ông lặng im, đợi một lúc coi. Đó là tiếng người hay tiếng chân con vật gì đi
trên lá mà kêu lào xào như vậy?
- Tôi nghe một chút nữa:
- Ô, tưởng là gì! Đấy là tiếng gió đập và những cành y lăng ở sau vườn nhà tôi
đấy mà.
- Thế mà tôi cứ tưởng là tiếng chân người đến rình rập chúng ta trò chuyện. Uống
đi ông. Cái chai rượu này ngon lắm, người bạn của tôi ở Phan Rang biếu tôi hai
chai đem về.
Ông Ômya uống cạn ly rồi tiếp câu chuyện đang bỏ dở:
- Ông hỏi tôi nghĩ sao à? Tôi không có nghĩ sao cả. Tôi chỉ biết tôi tin tưởng
rằng linh hồn của người ta sau khi chết rồi vẫn cứ tồn tại như thường và có thể
hiện lên, nếu cần. Có người bảo thế là "người chết hiện hồn" nhưng có người lại
gọi là ma. Theo tôi, hai thứ đó chỉ là một. Trường hợp Mệ Hoát và o Phương Thảo
mà chúng ta đã biết không phải là trường hợp chưa từng thấy từ trước đến nay.
Chính một người cô tôi ở Nhật cũng đã bị một cái linh hồ về trả oán và cũng lấy
roi quất thâm tím cả mặt mày.
- Nói vậy thì ra ông tin là linh hồn của người chết có thể trả thù người còn
sống một cách cụ thể hay sao?
- Tôi tin, mà cũng không tin. Tôi chỉ biết nhận xét như vậy mà thôi. Vả lại, tôi
không còn cách gì khác để mà luận về cái chết của Tôkubê nữa.
Thú thật với ông bạn, từ sau hôm hội kiến với ông bạn lần thứ nhất ra về, tôi đã
đi tìm mấy người bạn Nhật còn ở lại đây sau khi chiến tranh kết thúc mà tôi biết
là vẫn còn thường đi lại với Tôkubê. Tất cả những người đó đều công nhận rằng ít
lâu trở lại đây, Tôkubê khỏe mạnh không có bệnh tật gì. Xem lá phiếu khám sức
khỏe tổng quát hàng năm của y còn lưu lại trong nhà thương Đồn Đất, gan, phổi,
tim, máu, nước tiểu của anh ta bình thường. Một người như thế, theo khoa học
mới, không thể chết bất thình lình được.
Chỉ còn cách bảo là y say rượu hay bị đứng tim hoặc đứt gân máu. Thì giả thuyết
đó lại cũng không chắc chắn nữa: thứ nhất, ông già Yên, không uống rượu và rất
tỉnh táo đã xác nhận là Tôkubê hôm đó không say, mà chính ông cũng thấy như thế
vì ông bảo "Tôkubê hôm đó tỉnh táo và cười nói như thường", thứ hai là giấy
chứng chỉ của thầy thuốc khám nghiệm tử thi của anh ta ghi rõ ràng là Tôkubê
không bị nghẹt tim, cũng không hề bị đứt gân máu, bây giờ chỉ còn cách bảo là y
bị người ta chài ếm.
- Ủa, ông bạn cũng tin là có chài ếm nữa hay sao? Tôi vẫn thường nghe thấy nói
rằng có những người thù oán ai thường chài ếm thư phù kẻ thù cho đến chết hoặc
ếm một con dao ở trước cửa nhà, hoặc chài một con vịt con gà vào trong bụng nó;
có khi thư cả một hộp đinh hay một mới kim vào bụng; lại cũng có trường hợp ngồi
ở nhà mà phù cả một miếng da trâu vào bụng những người mình muốn hại. Tôi không
hiểu là thực hay hư.
- Điều đó, tôi có thể quả quyết với ông là mắt tôi đã được trông thấy rồi, hồi
tôi đến Việt Nam lần đầu tiên.
Có được trông thấy thế tôi mới tin chứ thực tình trước đó tôi cho là huyền hoặc,
dù tôi đã đọc nhiều sách của PHáp nói về vấn đề chài ếm.
Phải, tôi nhận là có thực và tôi tin hết sức những trường hợp phù ếm ghe trong
một cuốn sách có nhan đề là "Amulettes et envoutement" của mười hai "y sĩ thuộc
địa" trong đó có một ông hiện giờ vẫn còng nổi tiếng ở nước Pháp. Ông Huard soạn
thảo mà tôi còn nhớ rõ có in kèm nhiều hình ảnh. Điển hình nhất về chài ếm, cuốn
sách này đã kể trường hợp một người nông dân Bắc vì vấn đề sinh sống phải lên
mạn ngược làm ăn rồi không hiểu vì công nợ hay thù óan ra sao khi anh ta trở về
kinh thì bị bệnh, bụng cứ to lên như cái trống và đau đớn chịu không thấu.
Chụp hình quanh tuyến thì thấy bụng người bệnh đen òm. Lấy kim chích xem có nước
ở trong như trường hợp bịnh báng thì không có nước mà mũi kim tiêm lại bị cong
queo. Sau gần một tháng xoay sở đur cách không ăn thua gì hết, các bác sĩ chán
nản và gần như chịu thua bó tay may sao gia đình người bệnh xin cho y ra khỏi
bệnh viện đem về nhà rồi họ rước một ông thầy đến coi thì thầy bảo là bệnh nhân
bị ếm một miếng da trâu. Thầy cho bùa uống rồi làm phép được vài hôm thì bụng
người bệnh nhân nhỏ dần. Cuối cùng, ông thầy đánh vào bụng bệnh nhân mấy cái thì
từ trong thịt ở bụng người bệnh lòi ra một miếng da trâu có lông to bằng đồng
xu. Sau đó người bệnh nhân hết bệnh, lần lần khỏe lên rồi trở lại bệnh viện cho
bác sĩ chụp hình lại thì thấy lần này họ thấy cái bụng của người bệnh như người
bình thường.
Ông bạn! Sao tôi lại không thể nghĩ rằng Tôkubê chết vì bị người ta chài ếm?
Nhưng về điểm đó, tôi cũng đã suy nghĩ kỹ rồi: phàm người bị chài ếm thì phải
khó chịu đau đớn trong lòng, trong ruột cả mấy tháng trời rồi mới chết, chứ đâu
có chết tức tưởi như vậy, với lại tôi đọc sách nhưng không thấy quyển nào nói bị
chài ếm mà chết đột ngột, chết bất thình lình như trường hợp anh bạn của chúng
ta.
Bây giờ, tôi biết kết luận thế nào đây? Tôi chỉ còn biết tin vào lời của ông Yên
đã nói với ông sau khi Tôkubê ngã lăn ra ở bực cửa nhà ông: "có một cái gì như
thể một mớ roi da từ một chỗ rất kín đáo ở ngay gác sân thòng xuống, sáng lòe
lên rồi quất lia lịa vào đầu vào mặt ông Trần Hữu Lăng kỳ cho đến khi ông ấy ngã
lăn ra mặt đất, co quắp chân tay lại như đống giẻ rách."
Vào những ngày đầu năm ở miền Nam, cái lạnh năm tàn vẫn còn sót lại vào cái
khoảng nửa đêm về sáng. Gió bây giờ thổi mạnh hơn, các cành y lăng vỗ vào nhau
kêu rắc rắc. Một mùi thơm nửa như dạ lan hương, nửa như móng giồng tạt vào trong
căn gác lạnh có hai người già ngồi đối ẩm với nhau.
Tôi đứng dậy pha một tuần trà uống cho ấm lòng trong khi ông Ômya ôm cái gối vào
lòng cho đỡ lạnh mà ngồi thừ ra suy nghĩ còn đôi mắt thì cứ ngó trân trân ra
khoảng vườn tối mù mù ở bên ngoài.
Rồi đột nhiên ông nói:
- Nhưng bóng ma Mệ Hoát và o Phương Thảo hiện lên nói với Tôkubê những gì, tôi
rất tiếc là không ai biết hết...