Lời Tiên Tri
- Vân Kỳ, anh bứng hết tóc của tôi! Dừng tay lại, không thì đầu tôi sẽ sói
như một ông sãi.
- Hãy để yên, Lâm Bá. Cái bín tóc của cậu phải được thắt cho ngay và thoa bơ
cho láng bóng, nếu không thì bà lớn sẽ trừng phạt tôi.
- Hãy nhẹ tay một chút, Vân Kỳ, anh vặn cổ tôi đau quá!
- Không sao đâu, tôi phải làm gấp mới được.
Tôi ngồi dưới đất và một kẻ nô lệ phũ phàng với hai bàn tay chuối mắn, vặn
cái bín tóc tôi như người ta vặn cái "Maniven" quay máy xe hơi! Sau cùng cái
bín tóc tôi trở nên cứng đơ như một con yak bị rét cóng và sáng ngời như ánh
trăng rằm trên mặt hồ.
Mẹ tôi bận rộn quay cuồng như cơn gió lốc; bà ta di chuyển trong nhà mau lẹ
dường như người có phép phân thân ở nhiều chỗ cùng một lúc. Có những chỉ thị
vào giờ chót, những sự chuẩn bị cuối cùng, và rất nhiều lời lăng xăng dường
như một mệnh phụ bốn mươi cái xuân. Cha tôi trốn cảnh náo nhiệt ồn ào đó
bằng cách bế môn và rút lui vào phòng riêng của mình.
Mẹ tôi quyết định đưa chúng tôi đến JoKang, ngôi đền lớn ở thủ đô Lhassa; đó
hẳn là vì mẹ tôi muốn cho cuộc lễ tiếp tân được diễn ra trong một bầu không
khí tôn giáo. Vào lúc mười giờ sáng, một tiếng cồng với ba âm điệu khác nhau
điểm giờ tựu họp. Chúng tôi tất cả đều cưỡi ngựa, cha tôi, mẹ tôi, Yaso và
tôi cùng vài người trong thân quyến sửa soạn lên đường. Chúng tôi noi theo
con đường LingKhor, và đi vòng quanh dưới chân điện Potala, một tòa cung
điện lâu đài nguy nga tráng lệ của vị Đạt Lai Lạt Ma, độ một trăm ba mươi
thước bề cao và bốn trăm thước chiều dài. Sau khi đi qua làng Shô, và đi
ngựa mất nửa giờ trên đồng bằng Kyi Chu, chúng tôi đã đến trước cửa đền.
Chung quanh đền là những ngôi nhà trọ, cửa tiệm và chuồng ngựa đợi khách
hàng trong những đám người hành hương. Từ ngày được dựng lên trước đây mười
ba thế kỷ, ngôi đền Jo Kang vẫn luôn luôn tiếp đón khách hành hương. Ngôi
đền cổ đã biểu lộ những nét tàn phá của thời gian. Các viên tảng đá dưới nền
đã bày ra những đường nứt nẻ sâu đến nhiều phân tây do những bước chân dẫm
lên của hàng ngàn tín đồ. Những tượng thần bằng vàng của nền tôn giáo Tây
Tạng được xếp thành hàng dài dọc theo các vách tường. Những màn lưới sắt dầy
và kiên cố giữ gìn những pho tượng nầy đối với những tín đồ mà lòng tham có
thể mạnh hơn là lòng tôn sùng. Những tượng thần lớn nhất phần nhiều đều tràn
ngập đến quá nửa thân mình với hàng đống ngọc quý và châu báo mà những người
sùng tín cầu xin ân huệ thiêng liêng đã đặt lên đó. Trên những chân đèn bằng
vàng khối, những ngọn bạch lạp được thấp thường xuyên, tỏa ra ánh sáng không
bao giờ tắt đã từ mười ba thế kỷ.
Từ những góc âm u của ngôi đền vọng đến tay chúng tôi những tiếng chuông
gân, tiếng cồng và tiếng tù và thổi vang tai. Chúng tôi noi theo con đường
vòng trước chánh điện theo như truyền thống bắt buộc, và sau khi đã lễ bái
xong, chúng tôi bước lên trên nóc bằng của ngôi đền. Nơi đây chỉ có một số
ít người có đặc quyền được lên. Cha tôi, với tư cách Bảo Thế của Giáo Hội,
luôn luôn có mặt ở tại đây mỗi khi đến viếng ngôi đền nầy.
Tiện đây, tôi xin nói sơ lược về nền chính trị của xứ Tây Tạng. Đứng đầu
quốc gia và Giáo Hội là đức Đạt Lai Lạt Ma, tục gọi là Phật Sống Tây Tạng.
Ngài vừa là vị nguyên thủ quốc gia cầm quyền chính trị, vừa là nhà lãnh đạo
tôn giáo, vừa là vị Thẩm Phán tối cao cầm cán cân công lý của dân Tây Tạng.
Mọi người dân bất cứ sang hèn đều có thể thỉnh cầu đến ngài. Nếu một sự
khiếu nại hay đơn thỉnh nguyện có lý do chính đáng, hoặc trong trường hợp có
sự bất công oan ức, vị Đạt Lai Lạt Ma sẽ xét xử để thỏa mãn các nguyện vọng
và san bằng mọi nỗi bất công. Thật không phải là quá đáng mà nói rằng tất cả
mọi người, không trừ một ai, đều yêu mến và kính trọng ngài. Ngài là vị quốc
vương có quyền hành tuyệt đối. Ngài sử dụng uy quyền thế lực của ngài vì
hạnh phúc của dân chúng, chứ không bao giờ vì những mục đích ích kỷ. Ngài đã
tiên đoán sự xâm lăng của quân Trung Cộng từ nhiều năm về trước. Ngài cũng
biết rằng nền tự do của xứ Tây Tạng tạm thời sẽ trải qua một thời kỳ xuống
dốc. Vì bởi những lý do đó mà một số ít người trong giới tu sĩ được một sự
thụ huấn đặc biệt, để cho những kiến thức Huyền Môn mà các nhà đạo sĩ thời
xưa đã góp nhặt từ nhiều thế kỷ sẽ khỏi phải bị mai một và đắm chìm trong
quên lãng.
Dưới quyền lãnh đạo của đức Đạt Lai Lạt Ma có hai Hội Đồng: Một là Hội Đồng
Tôn Giáo, gồm có bốn vị cao tăng ở cấp đẳng Lạt Ma. Những vị này đều chịu
trách nhiệm trước đấng Thậm Thâm (một danh hiệu khác của đức Đạt Lai Lạt Ma.
Người ta thường gọi ngài là đức Thái Tuế, đấng Thậm Thâm Le Très Profond,
đấng Khôn Lường, I’Inappréciable). về những vấn đề liên quan đến các tổ chức
tu viện Lạt Ma Giáo (lamaseries) và đạo viên trong xứ. Tất cả những vấn đề
tâm linh và tôn giáo đều phải qua tay các vị ấy phát lạc.
Kế đó là Hội Đồng Nội Các, gồm có bốn vị Tổng Trưởng trong số đó có ba vị
thuộc thành phần dân chính và một vị là tu sĩ. Các vị này nắm quyền cai trị
toàn xứ và đảm trách việc hòa hợp Quốc Gia vào Giáo Hội thành một khối duy
nhất.
Hai viên chức chánh phủ mà người ta có thể gọi là các vị Thủ Tướng, làm "Ủy
viên liên lạc" với hai Hội Đồng trên, và đệ trình những ý kiến của hai Hội
Đồng này lên cho đức Đạt Lai Lạt Ma. Hai vị ấy đóng một vai trò quan trọng
trong những phiên họp rất hiếm của Quốc Hội, gồm năm mươi nghị viện đại diện
cho các gia đình quý tộc và những tu viện lớn nhất của thủ đô Lhassa. Quốc
Hội chỉ nhóm trong những trường hợp rất khẩn cấp, như hồi năm 1904 khi đức
Đạt Lai Lạt Ma lưu vong tị nạn sang Mông Cổ trước sự xâm lăng của quân đội
Anh. Về điểm này, tưởng cần giải thích rõ rằng sự lưu vong tị nạn của đức
Đạt Lai Lạt Ma không có nghĩa là Ngài chạy trốn. Chiến tranh ở xứ Tây Tạng
có thể ví như một cuộc chơi cờ tướng: Bên nào ông tướng bị bắt thì bên đó
thua. Đức Đạt Lai Lạt Ma là vị Quốc Vương của xứ Tây Tạng. Không có ngài,
thì mọi sự chiến đấu đều trở nên vô ích: Ngài phải được ẩn trú an toàn để
bảo vệ sự hợp nhất của xứ sở.
Số nghị sĩ Quốc Hội có thể lên đến bốn trăm người khi nào những thân hào
nhân sĩ ở các tỉnh tham dự đông đủ các phiên nhóm.
Với thời gian qua, đức Đạt Lai Lạt Ma càng gia tăng quyền hành của ngài và
không cần đến sự giúp đỡ ý kiến của những Hội Đồng hay của Quốc Hội nữa. Xứ
Tây Tạng chưa bao giờ có được một sự cai trị anh minh và sáng suốt như thế.
Từ trên nóc đền nhìn ra xa, là một phong cảnh vô cùng ngoạn mục. Nằm về phía
đông là vùng đồng bằng Lhassa xanh tươi, rải rác có những cụm rừng nhỏ với
những lùm nhỏ uốn khúc, phản chiếu ánh nắng mặt trời như những con rắn bạc,
trước khi chảy vào sông Tsang Pô ở cách đó sáu mươi cây số. Ở phía bắc và
nam, những dãy núi cao dựng lên chơm chởm như thành quách bao bọc chung
quanh các vùng thung lũng và cao nguyên Tây Tạng, làm cho dân tộc xứ này
sống biệt lập hoàn toàn với thế giới bên ngoài. Nhiều tu viện Lạt Ma Giáo
được dựng lên trên các triền núi. Ở trên những ngọn núi cao hơn, có những
đạo viện nhỏ nhô lên một cách nguy hiểm trên những sườn núi cheo leo bên bờ
vực thẳm. Về phía tây, hai ngọn núi song đôi của điện Potala và tu viện
Chakpori nhô lên ở đằng xa. Giữa hai ngọn núi này, cánh cửa Tây Môn chiếu
sáng ngời trong ánh sáng bình minh còn sương mờ lạnh lẽo. Màu đỏ sậm của nền
trời càng nổi bật lên một cách dị thường, tương phản với màu tuyết trắng
tinh bao phủ các dãy núi nhô lên ở phía chân trời.
Trên đầu chúng tôi, những đám mây lợt lướt nhẹ trong không gian. Trong thành
phố, ở gần bên, toà Thị Sảnh day lưng vào mặt bắc của ngôi đền. Sở Ngân Khố
ở sát bên cạnh, cùng với những gian hàng, cửa tiệm và chợ búa mà người ta có
thể mua đủ mọi thứ, thượng vàng hạ cám. Cách đó không xa, ở về phía đông, là
một tu viện của nữ giới và vùng cư trú của Âm Công.
Những khách hành hương đã tấp nập trước cửa đền, một trong những nơi thánh
địa lớn nhất của Phật Giáo. Chúng tôi nghe tiếng nói chuyện không ngớt và
những tiếng động ồn ào của các tín đồ hành hương đến từ những vùng xa xôi
với những đồ lễ vật mà họ đem cúng dâng với hy vọng được Ơn Trên ban ân huệ.
Có người đem theo những con thú mà họ đã mua lại ở lò sát sinh với những số
tiền nhỏ nhoi khiêm tốn của họ. Cứu sống một sinh vật dầu đó là một con thú
hay một người, là một nghiệp tốt rất lớn về phương diện tâm linh.
Trong khi chúng tôi nhìn xem những cảnh tượng cổ điển đó, chúng tôi nghe
những tiếng kinh kệ ngân nga của các sư sãi, có những giọng thâm trầm của
các vị sư già chen lẫn với những giọng thanh, nhẹ của những chú tiểu sơ cơ.
Tiếng trống và những tiếng kèn cũng trỗi dậy vang tai.
Những sư sãi không bận rộn công việc, chạy tới lui lăng xăng không ngớt. Vài
vị mặc áo màu vàng, những vị khác mặc màu tím, nhưng phần đông mặc áo tràng
màu đỏ lợt của những "Sư sãi thường", màu hoàn kim và màu đỏ sậm dành cho
các sư sãi trong điện Potala. Những chú tiểu sơ cơ và các sư sãi cảnh binh
mặc áo già sậm cũng qua lại lăng xăng. Hầu hết đều có một điểm chung: Áo của
họ dầu cũ hay mới, đều là áo cà sa vá từng miếng như của Đức Phật ngày xưa.
Những sư sãi có phận sự trong điện Potala mặc một chiếc áo vàng ngắn, không
tay, ở bên ngoài áo dài của họ. Màu hoàng kim được coi như một màu linh
thiêng ở Tây Tạng (nó không bao giờ phai, bởi nó là một màu tinh khiết), và
đó là màu chánh thức của đức Đạt Lai Lạt Ma. Những sư sãi hay các vị Lạt Ma
cao cấp hầu cận bên ngoài, có quyền mặc áo ngắn màu vàng phủ ngoài áo của
họ.
Từ trên nóc đền Jokang chúng tôi đi về phía điện Potala thì thấy có nhiều vị
áo vàng đi qua lại. Chúng tôi ngước mắt nhìn lên thì thấy những ngọn cờ tôn
giáo phất phơ trước gió và những mái bầu của ngôi đền chiếu lóng lánh dưới
ánh mặt trời.
Nền trời đỏ thắm trông tuyệt đẹp với những làn mây nhẹ và dài, coi dường như
một bức tranh vẽ. Chúng tôi vừa đang ngắm cảnh mà cảm thấy say sưa ngây
ngất, thì mẹ tôi đã gián đoạn cái giây phút huyền diệu đó mà nói:
- Thôi ta đi kẻo mất thời giờ. Mình phải về xem chừng kẻo bọn gia nô nó làm
hư việc.
Chúng tôi bèn lên ngựa trở về nhà theo con đường Lingkhor, mỗi bước chân
ngựa vang trên mặt đường lộ càng đưa tôi đến gần, điều mà tôi gọi là một
cuộc "thử thách", nhưng mẹ tôi thì coi như là ngày Đại Nhật của mình.
Về đến nhà, mẹ tôi xem qua tất cả mọi việc một lần cuối cùng,
và chúng tôi liền ăn uống một bữa no bụng để chuẩn bị chờ những gì sắp đến.
Thật vậy, chúng tôi biết rằng trong những dịp như thế, những quan khách được
thiết đãi ăn uống no say, còn những người nhà thì phải lo tiếp đãi mà thôi,
chớ không được ăn uống gì cả.
Tiếng nhạc trống vang rền báo hiệu các sư sãi nhạc công đã đến, họ liền được
đưa vào khu vườn phía sau nhà. Họ có mang theo những kèn loa, kèn ống,
trống, tù và, và đeo chụp chõa trên cổ. Họ vừa bước vào khu vườn, vừa nói
chuyện huyên thuyên và gọi đem rượu bia uống cho thấm giọng để lấy hứng.
Những tiếng rít chát chúa và tiếng thổi điếc tai của những kèn loa, chiếm
trọn mất nửa giờ: Các sư sãi đang "lên dẩy" và thử lại những nhạc khí của
họ.
Vị quan khách đầu tiên đã đến, với một đoàn tùy tùng cưỡi ngựa theo hầu và
cầm những ngọn cờ hiệu bay phất phơ trước gió, gây nên những tiếng động ồn
ào ngoài sân. Những cổng sắt mở toang và các gia nô nhà tôi đứng sắp hàng
hai bên cửa vào để nghinh tiếp những người mới đến. Vị quản gia cùng với hai
người phụ tá đứng kèm hai bên, mỗi người cầm nơi tay hàng tá những khăn
choàng cổ bằng lụa mà người Tây Tạng dùng để dâng cho khách như một cách
chào hỏi theo phong tục bổn sứ. Có tất cả tám loại khăn choàng để dâng cho
các vị khách tùy chức vị hay cấp bậc cao thấp, và người ta phải biết dâng
cái nào cho thích hợp kẻo mang lỗi bất kính. Đức Đạt Lai Lạt Ma chỉ ban cho
và thu nhận những khăn choàng thượng hảo hạng. Những khăn choàng này tên gọi
là Khata, và đây là nghi thức để dâng biếu: Nếu người gia trưởng có cấp bậc
ngang hàng với khách, thì y đứng thụt lại ở phía sau, và đưa hai tay thẳng
tới trước. Người khách cũng làm y như vậy. Kế đó, người gia trưởng vái chào
và đặt cái khăn choàng lên hai cườm tay của vị quý khách, người này cũng đáp
lễ, rồi gỡ hai cườm tay ra, cầm lấy khăn choàng trở qua lộn lại nơi tay để
tỏ ra mình chấp nhận món quà biếu, và giao cái khăn cho một người hầu cận.
Nếu người biếu khăn là người ở đẳng cấp rất thấp, thì y quì xuống, le lưỡi
ra chào (nghi thức này tương đương với cử chỉ ngả nón chào của người phương
Tây) và đặt cái khăn choàng dưới chân khách, kế đó khách đáp lễ bằng cách
đặt cái khăn choàng riêng của mình vòng quanh cổ người gia trưởng.
Ở Tây Tạng, mọi quà biếu đều có kèm theo một cái khăn choàng thích nghi,
hoặc những thơ khen tặng hay văn bằng tưởng lệ cũng vậy. Những khăn choàng
của chánh phủ màu vàng, còn những khăn choàng khác màu trắng. Nếu đức Đạt
Lai Lạt Ma muốn ban một danh dự lớn lao cho một người nào, ngài đặt nơi cổ
người ấy một khăn choàng cột bằng một sợi chỉ tơ đỏ có ba vòng. Và nếu trong
khi đó ngài đưa hai bàn tay ra, lòng bàn tay lật ngửa lên trời, thì đó là
một cái danh dự rất đặc biệt! Thật vậy, người Tây Tạng tin chắc rằng quá khứ
và tương lai đều có ghi trên những đường chỉ trong lòng bàn tay. Đức Đạt Lai
Lạt Ma, bằng cách lật ngửa hai bàn tay của Ngài, tỏ lòng ưu ái và thiện cảm
đậm đà nhất. Về sau, tôi được Ngài ban cho cái danh dự đó hai lần.
Đây nói về người quản gia đứng tiếp đón khách trước cửa với hai người phụ tá
ở hai bên. Y chào khách và nhận khăn choàng của khách rồi đưa qua cho người
phụ tá đứng bên tả. Trong khi đó người phụ tá đứng bên hữu đưa cho y một
khăn choàng thích nghi mà y đặt lên cườm tay hay lên cổ của người khách, tùy
theo cấp bậc tương xứng. Tất cả những khăn choàng này đều được sử dụng lại
rất nhiều lần.
Vị quản gia và hai người phụ tá mỗi lúc càng thêm bận rộn, vì quan khách đến
mỗi lúc càng đông. Dầu cho họ đến từ những trang trại láng giềng, từ thành
phố Lhassa, hay từ những vùng ngoại ô, những đoàn kỵ mã tùy tùng của họ luôn
luôn đến bằng Lingkhor, rồi đi vào con đường nhỏ thuộc địa phận của gia tộc
chúng tôi, ở dưới bóng mát của điện Potala. Những bà mệnh phụ phu nhân phải
đi bằng ngựa trong nhiều giờ, dùng một cái mặt nạ bằng da để che mặt cho
khỏi bị những ngọn gió lốc có quến đầy cát bụi. Trên các mặt nạ ấy thường có
phác họa những nét chân dung của vị chủ nhân. Khi đến nơi, các bà mới lột
mặt nạ ra và đồng thời cởi luôn cái áo tơi bằng da con Yak. Những bức chân
dung ấy luôn luôn làm tôi thích thú: Các bà càng già và xấu, thì những bức
chân dung vẽ trên mặt nạ lại càng trẻ và đẹp!
Một sự hoạt động tấp nập diễn ra trong nhà tôi. Những gia nô không ngớt đem
ra những tấm nệm cho khách ngồi. Ở Tây Tạng người ta không ngồi trên ghế, mà
ngồi trên tấm nệm độ một thước vuông và dày độ hai mươi phân. Ban đêm, người
ta ghép nhiều tấm nệm lại để làm chỗ ngủ, và chúng tôi thấy nằm ngồi trên
nệm thoải mái dễ chịu hơn là ngồi trên ghế bành hay nằm trên giường.
Khi khách vừa đến, họ được mời dùng trà pha bơ; và kế đó họ được đưa vào
phòng ăn. Tại đây, đủ các thức ăn đã dọn sẵn và khách có thể ăn uống tùy
thích trong khi chờ đợi cuộc tiếp tân thật sự bắt đầu. Bốn mươi vị phu nhân
thuộc gia đình quyền quý đã đến cùng với những vị quý bà tâm phúc của họ.
Trong khi mẹ tôi đang tiếp đón một nhóm các bà mệnh phụ này, thì một nhóm
các bà khác đi dạo khắp nơi trong nhà, ngắm nhìn bàn ghế và thưởng thức trị
giá các đồ vật trang hoàng. Thật chẳng khác nào một cuộc "xâm lăng" vĩ đại:
Các bà khách có mặt ở khắp nơi, đủ các hình dạng, đủ các màu sắc, đủ mọi
hạng tuổi. Có vài bà xuất hiện ở những chỗ bất ngờ nhất và không chút do dự,
cất tiếng hỏi bọn gia nô giá tiền của món đồ này, hay giá trị của món vật
khác. Nói tóm lại, các bà xử sự như tất cả mọi người đàn bà khác trên thế
giới. Đó cũng là sự thường tình. Chị Yaso của tôi đủng đỉnh trong một bộ lễ
phục mới toanh và bới đầu theo kiểu mới nhất, hay ít ra đó là chị nghĩ như
vậy. Tôi thì cho rằng kiểu tóc của chị thật lố lăng, nhưng tôi luôn luôn vẫn
có óc chỉ trích những việc làm của nữ giới. Dầu sao, có điều chắc chắn là
ngày hôm đó tôi thấy các bà có vẻ tự do xâm lăng một cách độc đáo.
Để làm cho cuộc tiếp tân càng sôi nổi đình đám hơn nữa, những cô gái kiểu
mẫu cũng có mặt trong hàng quan khách. Ở Tây Tạng, một vị phu nhân thuộc
dòng sang phải có rất nhiều y phục sang trọng và đồ nữ trang quý giá. Những
bộ y phục này cần phải được triển lãm vào những dịp giao tế công cộng, nhưng
vì người ta không thể làm như vậy nếu không thay đổi y phục thường xuyên,
nên những cô gái được huấn luyện đặc biệt, gọi là "chủng nữ, " được dùng làm
kiểu mẫu. Bởi đó, những cô chủng nữ này khoác vào những bộ y phục và đeo đồ
nữ trang của mẹ tôi, và vừa ngồi len lỏi trong đám quan khách vừa uống những
chén trà pha bơ nhiều đến nỗi đếm không hết, trước khi đi thay bộ y phục
khác và đeo những đồ nữ trang khác. Lẫn lộn trong hàng quan khách, các cô ấy
cũng giúp đỡ mẹ tôi trong vai trò nữ chủ nhân. Trong một ngày, các cô "chủng
nữ" đó có thể thay đổi y phục và nữ trang đến năm sáu lần.
Các quý khách bên nam giới thì chú ý nhiều hơn đến những trò chơi tiêu khiển
ở trong vườn. Người ta đã cho một đoàn trò xiếc đến để giúp vui. Ba người
trong đoàn này cầm dựng đứng một cây sào cao năm thước, trên chót hết có một
người nữa chổng ngược đầu và giữ thăng bằng trên đỉnh cây sào. Khi đó, cây
sào bị giật ra thình lình và người làm trò xiếc nhẹ mình rơi xuống đất trên
hai chân như một con mèo. Những đứa trẻ con nhìn xem trò xiếc này bèn rủ
nhau ra một chỗ vắng để bắt chước. Chúng tìm được một cây sào cao độ hai, ba
thước và cầm dựng đứng lên. Một đứa trẻ gan lì nhất trèo lên. Nhưng ơ kìa,
khi y thử chổng ngược đầu lên cây sào, y mất thăng bằng và rơi xuống như một
tảng đá lên đầu những đứa khác. Nhưng may thay, những đứa này có một cái sọ
khá cứng, và ngoài ra những cục u to bằng những quả trứng vịt, không ai bị
thương nặng.
Mẹ tôi xuất hiện trong khu vườn, người hướng dẫn một nhóm các bà phu nhân
muốn xem các trò biểu diễn và nghe nhạc. Điều này không khó, vì các sư sãi
nhạc công đã có đủ thời giờ để sưởi ấm lòng bằng những chầu rượu bia dồi dào
thỏa thích.
Mẹ tôi ăn mặc một cách long trọng đặc biệt: Áo kỵ mã "Bolero" ngắn màu vàng
tím, trên một cái "Jupe" bằng nỉ màu đỏ sậm dài đến gót chân. Những đôi ủng
rất cao bằng nỉ trắng tinh với những gót đỏ thắm và những sợi dây ủng rất
đẹp làm nổi bật màu y phục một cách rất mỹ thuật. Bên trong chiếc áo kỵ mã,
mẹ tôi mặc một áo lót bằng lụa đỏ. Phủ bên ngoài là một cái khăn choàng bằng
lụa thêu vắt ngang trước ngực từ vai bên mặt qua hông bên trái và cột lại ở
bên hông với một cái khoen bằng vàng khối. Cái khăn choàng này thòng xuống
đến tận lưng, có màu đỏ thắm ở phía trên dây lưng, và chuyển qua màu vàng
lợt đến màu vàng nghệ rất đậm.
Mẹ tôi đeo trên cổ ba gói bùa cột bằng một sợi dây vàng, mà mẹ tội không lúc
nào rời. Ba gói bùa này là những món quà cưới của mẹ tội, hai gói là quà
tặng của gia đình, và gói thứ ba, một danh dự đặc biệt, là quà tặng của đức
Đạt Lai Lạt Ma. Mẹ tôi cũng đeo đồ nữ trang rất quý giá, vì ở Tây Tạng những
đồ nữ trang của một vị phu nhân nhiều hay ít tùy ở cấp đẳng của họ trong xã
hội. Bởi đó, một người chồng phải tặng đồ vàng ngọc cho vợ mỗi khi được
thăng quan tiến chức.
Phải mất nhiều ngày để làm đầu tóc của mẹ tôi, với tất cả một trăm lẻ tám
lọn tóc. Số một trăm lẻ tám là một số linh thiêng, và những phụ nữ có nhiều
tóc để có thể kết thành bấy nhiêu lọn rất được hâm mộ. Đầu tóc của mẹ tôi
chia làm hai phần có một đường chẻ ở giữa, được kết lại bởi một cái mão bằng
cây đặt trên đỉnh đầu như một cái nón. Mão này sơn màu đỏ thắm, có nhận kim
cương chiếu lóng lánh, cẩn vàng và ngọc thạch. Mẹ tôi đeo một đôi hoa tai
bằng san hô rất lớn và nặng đến nỗi để cho trái tai khỏi bị quá căng và có
thể đứt ra, người phải giữ nó lại bằng một sợi chỉ đỏ quấn chung quanh vành
tai, và đầu sợi chỉ thòng xuống gần đụng tới dây lưng. Tôi ngắm nhìn mẹ tôi
mà phải nhìn nhận rằng mẹ tôi rất đẹp. Tuy nhiên, với đôi bông tai nặng như
thế, mẹ tôi làm sao quay đầu lại phía sau?
Những quan khách đi bắt bộ dạo chơi, vừa ngắm cảnh trong các khu vườn vừa
trằm trồ khen ngợi. Những vị khách ngồi riêng từng nhóm để trao đổi những
câu chuyện vặt. Nhất là các bà thì không để lở mất một phút nào mà không nói
chuyện của người láng giềng...
Nhưng thật sự, tất cả đều đợi chờ đến phần chính của buổi tiếp tân, kỳ dư
các mục khác trong chương trình chỉ là một sự chuẩn bị tinh thần để đưa họ
đến cái giờ phút quan trọng khi các nhà đạo sĩ chiêm tinh nói tiên tri về
bước đường tương lai của tôi. Cuộc đời tôi sau này sẽ tùy thuộc nơi quyết
định của họ.
Ngày đã sắp tàn, khi ánh tà dương kéo dài những bóng đen của mọi vật và cây
cỏ trên mặt đất, các quan khách đều tỏ ra uể oải đối với các trò giúp vui và
tiêu khiển. Bửa tiệc no say đặt họ trong một trạng thái thụ cảm. Những kẻ
gia nô mệt mỏi vẫn còn đem thêm thức ăn lên bàn khi những dĩa chén đã cạn,
nhưng sau cùng mọi người đã ăn uống no đủ với giờ khắc trôi qua. Những người
làm trò xiếc giúp vui cũng bắt đầu cảm thấy mệt mỏi, hết người nọ đến người
kia, họ lần lần rút lui, đi vào nhà bếp nghỉ ngơi và gọi thêm một chầu rượu
bia cuối cùng.
Các nhạc công vẫn còn sắc diện tươi tắn, thổi kèn loa, đánh chụp chõa và
đánh trống một cách đầy hứng khởi. Trên những tàn cây to, loài chim sợ hãi
vì tiếng động ồn ào đã rời khỏi những tổ quen thuộc của chúng.
Không phải chỉ có chim là biết sợ sệt. Những con mèo cũng đã biến mất dạng
và ẩn núp trong những chỗ kín đáo từ khi những quan khách đầu tiên cùng các
đoàn tùy tùng rầm rộ đến nhà. Những con chó ngao đen lớn của nhà tôi cũng êm
hơi lắng tiếng, giấc ngủ đã khớp mỏ chúng. Chúng đã ăn uống no bụng đến mức
không còn sức để ăn nữa.
Trời càng tối dần trong những khu vườn. Mùi hương thơm ngát xông lên từ
những bình lư hương khói trầm nghi ngút. Những khu vườn của cha tôi nổi
tiếng khắp sứ Tây Tạng vì những kỳ hoa dị thảo và những hòn non bộ vĩ đại
nhập cảng từ Trung Hoa. Có những cây lê, cây táo, cây mơ lùn thấp, bên cạnh
những cây cổ thụ cao lớn, trên tàn cây có cắm cờ xí bay phất phơ dưới ngọn
gió nhẹ ban chiều.
Sau cùng, vầng hồng đã khuất dạng sau những dãy núi Tuyết Sơn xa tít tận
chân trời: Một ngày đã chấm dứt. Từ những tu viện Lạc Ma giáo vọng đến tiếng
kèn điểm giờ khắc trôi qua; hằng trăm ngọn đèn bơ đã được thắp sáng khắp
nơi, trên các cành cây, dưới những mái nhà, và có những ngọn đèn khác thả
lướt nhẹ trên mặt nước êm đềm của ao sen trong vườn nhà. Chỗ này, có ngọn
đèn bị kẹt trong các lá sen chẳng khác nào những chiếc tàu bị kẹt trên bãi
cát, và chỗ kia, vài ngọn đèn trôi lênh đênh phiêu bạt về cái cù lao nơi đó
những con hạc sẽ trú ngụ lúc ban đêm.
Một tiếng cồng vừa điểm, mọi người quay đầu nhìn lại: Một cuộc diễn hành từ
đằng xa sắp sửa đến gần. Trong khu vườn nhà, đã dựng sẵn một cái lều rất
lớn, màn treo trướng rũ. Cửa lều mở rộng, bên trong có đặt một cái sàn gỗ và
bốn cái đôn Tây Tạng làm chỗ ngồi.
Đoàn người diễn hành bước đến trước liều, do bốn người gia nhân của nhà tôi
cầm đuốc dẫn đường. Theo sau họ là bốn người nhạc công thổi kèn loa bằng
bạc. Kế đó, cha tôi, mẹ tôi, bước lên sàn gỗ cùng với hai vị trưởng lão, là
những bậc giáo sĩ kiêm chức Thiên Giám Quan, đảm nhiệm việc tiên tri các
điều họa phước của quốc gia.
Những vị trưởng lão này, xuất xứ từ vùng Nechung, là những nhà chiêm tinh
giỏi nhất của xứ Tây Tạng. Những lời tiên tri của các vị nhiều lần tỏ ra đã
chính xác và đúng như các sự việc đã xảy ra về sau. Một tuần lễ trước đó,
đức Đạt Lai Lạt Ma đã mời các vị đến để nhìn xem tương lai của một đứa trẻ
lên bảy tuổi. Hai vị ấy đã lấy lá số của tôi và nghiên cứu cặn kẽ từng ly
từng tí trong nhiều ngày những ảnh hưởng của các vì tinh tú.
Hai vị Lạt Ma đem theo lá số chiêm tinh và những bảng đoán số. Hai vị khác
tiến đến và đỡ hai vị Thiên Giám Quan già bước lên sàn gỗ, trên đó hai vị
này ngồi sát cạnh nhau như hai pho tượng bằng ngà. Những chiếc áo rộng bằng
lụa Trung Hoa màu vàng lại càng làm nổi bật tuổi tác cao niên của họ. Họ đội
trên đầu chiếc mão lớn của các đạo sĩ mà trọng lượng có vẻ quá nặng đối với
những cái cổ nhăn nheo của họ. Các quan khách đều vây chung quanh cái sàn gỗ
và ngồi trên những tấm nệm trải dưới đất. Những câu chuyện đều ngưng bặt,
mọi người đều lắng tai nghe lời phán quyết của vị niên trưởng trong hai vị
Thiên Giám Quan lão thành. Vị niên trưởng bắt đầu nói bằng một giọng nhẹ
nhàng:
- "Lha dre mig cho nang chig". Quỷ thần và nhân gian cùng bị chi phối như
nhau bởi những định luật huyền bí trong vũ trụ. (Ý nói: Người ta có thể tiên
đoán việc tương lai.)
Bằng một giọng trầm, vị Thiên Giám Quan cao niên nói tiên tri suốt một tiếng
đồng hồ. Kế đó, người nghỉ ngơi trong mười phút, và lại nói thêm một giờ
nữa, khi đó, người tiếp tục vạch trần tương lai của tôi dưới những nét đại
cương.
- "Lạ quá, thật là kỳ diệu!" Toàn thể cử tọa bất giác thốt lên trong khi họ
đang đắm chìm trong một cơn thích thú mê ly.
Như thế, người ta đã nói cho tôi biết trước tương lai của tôi: "Sau một giai
đoạn thử thách cam go gian khổ, đương số sẽ là một đứa trẻ lên bảy tuổi, sẽ
bước chân vào tu viện để được thụ huấn như một tu sĩ kiêm y sĩ giải phẫu. Y
sẽ gặp nhiều nghịch cảnh gian lao, sẽ rời khỏi xứ sở và sống ở ngoại quốc. Y
sẽ mất hết tất cả, sẽ phải làm lại cuộc đời từ con số không và sau cùng y sẽ
thành công".
Cuộc tiên tri đã bế mạc, các quan khách cũng đã giải tán lần lần. Những vị
khách ở xa còn nán lại nhà tôi một đêm để sáng ngày hôm sau lên đường. Những
người khác trở về ngay đêm đó cùng với gia nhân tùy tùng của họ dưới ánh
sáng của những ngọn đuốc. Họ tựu hợp ở ngoài sân, giữa những tiếng ngựa khua
móng sắt trên nền đá và những tiếng người kêu gọi lẫn nhau.
Một lần nữa, cái cổng sắt nặng nề lại mở toang ầm ĩ để cho đoàn người ngựa
đi qua. Tiếng chân ngựa khua vang và những giọng nói chuyện trò của họ nghe
đã thưa dần, và sau cùng chỉ còn lại cái im lặng của ban đêm.
|