Đưa cái quách đặt vào cửa một ngôi chùa ở Phú Thọ rồi, chúng tôi ngồi nghỉ và
uống nước, trong khi ông Ômya nói chuyện nốt với nhà sư về việc xin nhà chùa làm
lễ hỏa thiêu.
Tôi hỏi ông Ba:
- Ông khuyên chúng tôi thế nào?
- Người ta hỏa thiêu nguyên cả cái xác, may ra chỉ được một nắm tro, đàng này
chỉ có vỏn vẹn mấy cái xương thì có nên hỏa thiêu không, hay là nên đóng một cái
hộp đựng để thờ?
Ông Ba nói:
- Phải thiêu chứ! Cách gì cũng phải hỏa thiêu. Để nguyên xương trong cáo hộp để
thờ là điều tối kỵ, mà độc lắm.
Chừng nửa tiếng đồng hồ sau, nhà chùa làm một cái lễ rồi bắt đầu cuộc hỏa thiêu:
mấy cái xương còn lại của Tôkubê được lượm từ cái quách sành ra, bỏ vào trong
một cái hộp gỗ nhỏ bề ngang chừng nửa thước, bề cao chừng năm phân rồi đẩy vào
trong một cái lò có dây kẽm đan ở chung quanh. Lửa bắt đầu cháy bùng lên vì hình
như có tẩm xăng thì phải. Có tiếng kêu lép bép. Rồi lửa bốc lên ngùn ngụt.
Đến sáng hôm sau, cời củi cháy âm ỉ ra, nhà chùa thu được một dúm tro do những
cái xương cháy để lại. Một dúm tro cầm không kín lòng bàn tay đứa trẻ con lên
sáu. Một dúm tro không káhc gì tro ở bếp lửa mà to đốt gộc để sưởi cho ấm vào
những đêm đông. Một dúm tro mà người ta không biết sẽ không ngần ngại gì mà
không tung hê ra trước gió cho khỏi làm dơ lòng bàn tay.
Chưa có một buổi tối nào tôi lại buồn tha thiết, buồn não nề như thế.
Ở ngôi chùa làm lễ hỏa thiêu xong ra về, hai ông Ba Sạng và Ômya cùng về nhà tôi
ăn cơm uống rượu. Tất nhiên câu chuyện bốc mộ ông Tôkubê lại được đem ra đàm
luận. Đến lúc ấy, sự bực tức mới được bộc lộ ra câu nói:
- Vô lý! Tôi không tưởng tượng được vì "nó" vô lý quá.
Ông Ômya hỏi tôi:
- Ông nói "nó" vô lý là cái gì vô lý?
- Là cái việc mà chúng ta cùng chứng kiến, chứ gì! Là cái việc bốc mộ ông Tôkubê
chớ gì! Thú thật vói hai ông, tôi cho là vô lý hét sức và cho đến tận bây giờ
tôi vẫn không tin là thật.
Ông Ômya nói tiếp:
- Tôi không nghĩ là vô lý. Tuy nhiên nói thật tình, tôi đã đi xem nhiều đám bốc
mộ rồi, nhưng chưa hề thấy một đám nào kỳ lạ đến như đám này. Sao mà xương cốt
lại tiêu hết trọi, trong khi những thứ đồ vật đáng lý phải mục nát lại còn
nguyên vẹn?
Thì ra không phải chỉ có một mình tôi buồn mà cả ông Ômya và ông Sạng cũng buồn
ray buồng rứt đêm hôm ấy. Chưa hôm nào chúng tôi uống say đến như thế. Về khuya,
ông Ba Sạng có hơi men đưa đẩy mới lên tiếng:
- Cho rằng vô lý thì quả vô lý thật. Tôi cũng đồng ý kiến với hai ông. Nhưng
chúng ta lầm cả hai ông ạ. Lầm vì chúng ta đã lấy cái đầu óc khoa học bây giờ để
mà tìm hiểu những vấn đề huyền bí. Đã là huyền bí thì bao giờ có lý. Nếu lý giải
được thì còn đâu là huyền bí?
Phần tôi, trong vụ này, tôi không dám nói là vô lý mà tôi cũng không tìm cách lý
giải xem tại sao lại thế.
Nói về những chuyện huyền bí, không lý giải được, chúng ta đây ai cũng đọc nhiều
sách, nhiều truyện lạ kỳ mà theo đó thì các nhà thông thái không hiểu ra thế
nào. Tuy nhiên, đó chỉ là những sự việc mà ta thấy chép ở trong sách vở, chớ
không được mắt thấy rõ ràng. Chính tôi đã được thấy một vụ bốc mộ cũng vô lý như
thế, làm cho nhiều nhà bác học nghi ngờ phỏng đoán, nghiên cứu tùm lum mà kết
cuộc cũng đành chịu thua, không hiểu ra thế nào.
Tôi không bịa đặt. Tài liệu hãy còn lưu trữ ở sở quản thủ Viện Bảo Tàng Sài Gòn
hiện nay.
"Hôm ấy nhằm ngày 16 tháng 11 năm 1953, tôi cùng một người bạn đi chơi đến làng
Hòa Hưng thì gặp một ông bạn khác là Anh Vương.
(Câu chuyện này do chính anh Vương đã thuật lại trong một cuốn sách xuất bản năm
1960 nói về Sài Gòn ngày trước.)
"Tôi hỏi anh đi đâu mà lặn lội đến chỗ này. Anh Vương cho biết rằng anh nhân
danh đại diện quản thủ Pháp viện Bảo Tàng Sài Gòn đến làng này để coi cho người
ta bốc một ngôi mả không người nhận ở trong một ngõ hẻm chi nhánh đường Lê Văn
Duyệt.
Nguyên trước đây, lăng miếu cổ tích miền Nam được trường Viễn Đông Bác Cổ gioa
phó cho quản thủ Pháp của Viện Bảo Tàng Sài Giòn chăm nom. Viện này có nhiệm vụ
sưu tập, bảo vệ các cổ tích, do đó mỗi khi có ai mua được đất thổ mộ, để cất nhà
thì viện phải cử người đến xem có đụng chạm đến các cổ tích hay không, hay có
đào bới được cổ vật gì không.
"Vậy anh Vương đại diện cho viện đến coi người ta bốc một ngôi mả ở hẻm chi
nhánh đường Lê Văn Duyệt để rồi cất nhà lên trên đó ở."
"Hôm ấy, phu phen cậy nắp quan tài, bởi vì trước đó mấy hôm người ta đã bắt đầu
phá ngôi mộ rồi. Phá mất mấy ngày vì đất ở đấy là đất đỏ, rắn lắm."
"Công cuộc cậy nắp hòm bắt đầu. Bạn tôi, anh Vương, muốn tìm biết xem mộ này là
mộ của ai, bao nhiêu tuổi, quê quán ở đâu, nhưng tiếc thay, các chi tiết như mộ
bia, liễn đối ghi trên mộ đều đã bị đập phá hết, không còn nữa."
"Anh chỉ còn thấy được cái quan tài mà thôi. Đó là một cái quan tài đẹp, chắc
chắn, mặc dù chôn đã lâu năm, nhưng mới trông cũng biết là làm bằng gỗ huỳnh
đàng. Bằng vào cái gỗ này đóng quan tài mà đoán thì người chết phải là một người
khá giả, gia đình sung túc lắm, vì ai còn không biết là hòm đóng bằng gỗ trai,
gỗ huỳnh đàng là thứ hòm hạng sang, những gia đình bình thường không dễ gì sắm
được để chôn người quá cố."
"Đến khi cậy được nắp hòm ra, nhìn vào trong thì thấy xương cốt của người quá cố
còn nguyên những tím ngắt, thịt nát rữa ra, nhưng trên trán thì còn nguyên lành
một miếng da bầy nhầy. Nhìn kỹ miếng da thì còn thấy rõ được cả lỗ chân lông. Gò
má thì nguyên vẹn như gò má người sống, ánh lên một màu hồng y như thể là đọng
máu."
"Bạn tôi lại gần cái xác, cầm cái quạt giấy mà người chết cầm ở tay. Lạ lùng hết
sức: cái quạt giấy y nguyên không mục, cầm lấy xòe ra vẫn như quạt thường, không
có một dấu vết gì tỏ ra là cái quạt ấy chôn cùng với người chết ít ra đã được
150 năm rồi."
Ông Ômya ngắt lời hỏi:
- Bằng chứng vào đâu mà quyết đoán được như vậy?
"Bằng vào cây quạt giấy. Là vì trên cây quạt có đề chữ nhỏ, nét chữ sắc sảo viết
bằng một chất gì như ngân nhũ, ghi chú như sau:
"Gia Khánh đệ... niên". Gia Khánh hoàng đế, vua Mãn Thanh trị vì xứ Trung Hoa từ
năm 1796 đến năm 1820. Thế là tính đến năm 1953 là năm bốc ngôi mộ, chẳng phải
đã được trên dưới 150 năm là gì?"
- Thế người chết là người Việt hay là người Trung Hoa?
"Là người Việt. Để tôi kể câu chuyện dưới đây, ông sẽ thấy là người Việt, nhưng
tại sao thay vì "Gia Khánh" cây quạt ấy lại không ghi "Cảnh Hưng", cái đó tôi
chịu, chưa thể tìm ra câu trả lời.
Sốt ruột vì câu chuyện dở dang, tôi nói:
- Thôi bỏ đấy. Gia Khánh hay Cảnh Hưng, cái đó không cần lắm tôi chỉ cần biết rõ
câu chuyện sau xảy ra như thế nào.
"Câu chuyện về sau cũng lạ như chuyện của Tôkubê vậy. Tất cả những cái gì mà ta
cho là bền vững không bở được, không mục nát được, tất cả những cái gì mà ta cho
là có tính cách trường tồn thì đều hóa ra tro bụi, trái lại, những cái gì mà ta
cho là phù du, mau hư mau hỏng, mau tan rã, mau tiêu thì lại còn nguyên vẹn gần
như mới vậy.
"Ngoài cây quạt nan phết giấy cầm lên xòe ra như thường không lủng một lỗ trên
giấy phết, không gẫy một cái nan tre, người ta còn lần lượt lượm lên được nhiều
thứ khác không hư hao gì hết, mặc dù đã chôn kỹ dưới đất trên dưới 150 năm trời,
nhu vỏ cau ăn trầu, giấy tiền vàng bạc, bọc vải đựng trần, thuốc xỉa, bút lông,
khăn chít đầu..."
"Vỏ cau ăn trầu nửa xanh nửa vàng còn dính liền vào trái; giấy tiền vàng bạc còn
nguyên từng xếp buộc bằng lạt, mực in không phai nhòa, không rách (duy có thuốc
xỉa ra gió một lát thì tan ra thành bụi) nhưng trái lại những đường chỉ kim
tuyến thêu trên túi đựng trầu thì vẫn ràng ràng sáng chói y như mới; hai cây bút
lông bọc trong một tấm vả hồng điều cũng y như mới, cán bằng trúc, không hề hấn
gì, lông ở ngòi mềm mại, mới tinh, tưởng chừng như có thể chấm vào nghiên mực
viết nhu bút mới, nhưng chỉ ra ngoài gió một lát thì lông rụng tả tơi và rơi ra
khỏi quản."
"Ông Ômya vừa hỏi tôi người là người Trung Hoa hay người Việt. Đây, tại sao anh
Vương, một học giả lão thành rất giàu suy nghiệm lại quả quyết như thế, vì hai
hàm răng của người chết còn nguyên trong miệng và nhuộm đen. Sự việc đó đủ chứng
tỏ rằng người chết là người Việt gốc gác không ở Bắc thì ở Trung. Ngoài ra người
chết lại còn chí khăn vấn tay ở trên đầu, mặc áo dài lồng vào với nhau và có đẫy
đựng trầu cau chạy chỉ kim tuyến!"
"Như vậy đã đủ chứng minh là người Việt chưa? Chắc rồi, nhưng người Việt đây
không phải là một người có chức tước triều đình (vì chít khăn cài lược đồi mòi
chớ không đội mão), tuy vậy, ông ta nhất định phải thuộc vào cái hạng phong lưu
khá giả, chứng cớ là có đem theo xuống suối vàng hai ngọn bút lông, cây xỉa rằng
làm bằng bạc, cái móc tai dát vàng, hai bao đựng thuốc xỉa, thuốc hút và cái đẫy
đựng trầu ăn"
"Tôi nhớ sau vị này, anh Vương đã ghi lại cảm xúc của anh trong những câu rất
buồn sau đây:
Ô hô! Giàu sang một đời, nằm xuống đất, nay đã gần một trăm năm mươi năm, thế mà
chưa được yên thân! Cháu con lâu đời ắt đã lui về quê cũ hoặc Bác hoặc Trung,
còn sót những đứa ở lại đây, một nắm xương tàn đối với chúng sao trọng bằng tiền
bạc, nên chúng đã ký tên bán đất, phú cho phu phen phá mồ đào cốt, cải táng về
đâu mặc kệ. Ván hòm cứng thật. Bề ngoài mốc mốc, đất ăn xầy xầy, tưởng bở, chạm
sâu một phân tây mới biết là cứng vô cùng, thậm chí đến cái máy khoan điện thuở
nay nào biết kiêng nể thứ gì, sức bực sắt đá mà nó còn nhai như bánh bột, thế mà
máy khoan không đâm thủng nắp hòm! Khoét được lỗ nào chỉ đứt được lỗ đó, còn
chung quanh thì vẫn y nguyên. Khoan cả mấy giờ, không xuể đâu vào đâu, phu phá
mồ xổ chữ nho nghe mà mệt! Thét rồi chùng chạy về lấy búa thầu và đục thép cỡ
lớn ra nói chuyện với cái hòm gỗ huỳnh đàng! Nghĩ mà tội nghiệp cho người nằm
dưới đó! Sắm hòm cây danh mộc, tưởng đủ chịu đựng với thời gian, không dè kẻ thù
ngày nay là đứa cháu bất hiếu, với tên võ phu tay cầm búa thầu đục thép. Không
một tiếng não bạt, ê a, không một câu kinh an ủi. Nằm trơ đó cho người ta mổ búa
lớn vào nắp vào đầu... Chung quy có mớ đồ vật ký thác Viện Bảo Tàng còn lưu lại
hậu thế; kỳ dư trở về tro bụi hết, trở về tro bụi hết!"
Ông Ba kết luận:
- Đấy, chuyện vô lý như thế đấy, nhưng không tin cũng không được vì là thật,
hoàn toàn thật.
- Chuyện cậy hòm ông Tôkubê có khác gì không?
- Nếu Sở Quản Thủ Bảo Tàng Sài Gòn đến bây giờ vẫn chưa tìm ra được lý do câu
chuyện huyền bí đó, tôi thiết tưởng cái cá nhân hèn mọn của chúng ta cũng chẳng
nên tự phụ đi sâu hơn vào vụ bốc mộ ông bạn của chúng ta làm gì!